 va be dung.jpg) |
|
Nguyễn Thị Hậu (bên tay phải) cùng bé Dung khi còn nhỏ
|
Người tôi muốn tìm là cháu gọi tôi bằng cô ruột. Tên cháu là Nguyễn Thị Hậu. Cha cháu tên Nguyễn Thành Tiền - là anh cùng cha khác mẹ với tôi. Tuy mẹ tôi là mẹ kế, nhưng bà thương hai người con trai riêng của chồng bằng tình thương yêu, vun đắp tận tụy. Đáp lại, cả hai người anh - trong đó có cha cháu Hậu - rất mực yêu kính mẹ tôi, thương các em gái. Trong trí nhớ của tôi, chưa bao giờ tôi nhìn thấy hai anh nhìn mẹ tôi bằng ánh mắt bất kính chứ đừng nói là thốt lên lời bất kính.
Anh tôi đã có vợ. Trong phút xa gia đình (vợ con ở Quy Nhơn, anh làm lính chế độ cũ, đơn vị đóng quân ở Sơn Trà - Đà Nẵng), đã đi lại với chị Hoàng Thị Don và có cháu Hậu. Mẹ tôi tình cờ biết việc này khi ra Sơn Trà - Đà Nẵng (1968) thăm chị gái tôi vừa sanh con. Lúc ấy, chị Don cũng vừa sanh cháu Hậu mới vài ngày, ôm con còn đỏ hỏn trong hoàn cảnh bơ vơ. Mẹ tôi hỏi ý chị muốn về quê (Hải Lăng) thì mẹ giúp vốn sinh sống, hay muốn làm con gái của mẹ thì không quan hệ tình cảm với anh Tiền nữa và về sống với mẹ ở Tam Kỳ - Quảng Nam. Chị xin theo mẹ tôi. Và, chị đã sống cùng chúng tôi 4 năm (1968 – 1972). Điều tốt đẹp mà mẹ tôi thu xếp được là anh Tiền - chị Don chấm dứt hẳn quan hệ tình cảm. Khi có người đàn ông tốt muốn xây dựng gia đình với chị Don, mẹ tôi sẵn sàng tác thành nhưng chị từ chối. Đối với mẹ tôi, chị là đứa con hiếu thảo; đối với tôi, chị là người chị hiền.
 |
|
Nguyễn Thị Kỳ - cô Út của bé Hậu
|
Sau này, mẹ con chị ra sống chung với chúng tôi ở Sơn Trà - Đà Nẵng. Bé Dung (con chị ruột tôi) cùng tuổi với bé Hậu. Để chị khỏi tủi, mẹ và chị gái tôi mua sắm cho bé Dung - bé Hậu như mua cho 2 đứa trẻ sinh đôi vậy. Nhưng bao giờ bé Dung cũng hồn nhiên vui tươi (dù thể chất mảnh mai, yếu đuối), còn bé Hậu lặng lẽ, ít nói cười (dù khỏe mạnh, bụ bẫm hơn hẳn). Ở tuổi lên 3 lên 4 mà Hậu đã là đứa trẻ rất tình cảm. Tôi đi học về trễ đến đâu cháu cũng chờ tôi về rồi mới ăn cơm. Ngày ấy, tôi cũng chỉ là một cô bé vô tư, có khi về tới nhà là mở lồng bàn, xới cơm ăn ngon lành, đến khi thấy cháu ngồi lặng lẽ nhìn, mắt ươn ướt mới biết cháu nhịn đói chờ cô Út. Tôi xin lỗi và lấy bát cơm với nhiều thức ăn cho cháu. Bé Hậu tươi ngay nét mặt. Đó là một bé gái rất hiền, ngoan, giàu cảm xúc!
Sau tết 1972 (có thể là tháng Ba) chị xin phép mẹ tôi đưa cháu Hậu về thăm bà ngoại ở Hải Lăng (Quảng Trị). Nào ngờ chiến sự nổ ra ác liệt. Nghe nói do nhà hết lương thực, chị đánh liều ra đồng tìm mót lúa, rủi gặp một toán lính của quân đội Sài Gòn cũ hành quân ngang qua, chị và những người nông dân trên đồng bị lính đưa theo (vì sợ chạy về báo tin cho quân giải phóng, làm lộ cuộc hành quân). Chị bị đưa vào trại tản cư. Rồi quân giải phóng làm chủ hoàn toàn Hải Lăng, tiếp đó là Hiệp định Paris 1973... Và, có thể chị thật sự không biết số phận bé Hậu và bà ngoại cháu trong chiến sự ra sao, sống hay chết... nên không dám quay lại với chúng tôi nữa.
Cháu Hậu và chị Hoàng Thị Don hiện ở đâu? Thực ra, trong bão táp của “Mùa hè đỏ lửa 1972” đứa cháu bé bỏng của tôi còn sống không?
Dù muộn, tôi vẫn mong “Như chưa hề có cuộc chia ly…” cho tôi có hạnh phúc được nghe cháu Hậu gọi tôi như ngày xưa: “Cô Út ơi!”.
Nguyễn Thị Kỳ