Trước hết tôi xin cảm ơn chương trình đã đem lại nhiều niềm vui cho những người có hoàn cảnh chia ly được gặp lại những người thân một cách không thể tin được.
.jpg) |
| Nguyễn Thị Sam em gái Nguyễn Thị Sét |
Tôi là Nguyễn Văn Sâm, sinh năm 1948, muốn tìm chị gái là Nguyễn Thị Sét sinh nắm 1937, mất liên lạc từ năm 1953 đến nay.
Tôi xin được kể lại những chị tiết may chăng chị tôi còn sống có thể nhớ được và mong tìm thấy chị. Cha tôi là Nguyễn Văn Chọ, bà Lê Thị Mộng sinh được 4 người con gái, chị lớn nhất tên là Sam, rồi đến chị Sét, chị Mong và chị Mỏi chết khi còn nhỏ. Tháng 06/1945, bà Mộng qua đời, cha tôi cảnh gà trống nuôi con ở vào lúc đất nước đang gặp nạn đói, sau khi lo hậu sự cho bà Mộng, cha tôi có nhờ bà cụ Kẹo người họ hàng nuôi chị để cha tôi và chị Sam đi kiếm kế sinh sống qua nạn đói, Thời gian nhờ cụ Kẹo nuôi chị tôi còn có cô Ky cũng sống với cụ Kẹo, cuối năm 1945 cô Ky chết đói ở Văn Chỉ.
Năm 1946, cha tôi về quê với mẹ tôi là Phạm Thị Tâm, quê ở huyện Thái Ninh, tỉnh Thái Bình, bà ra làm công nhân ở mỏ Mạo Khê, tỉnh Quảng Ninh gặp cha tôi, hai người rủ về quê. Cuối năm 1946, mẹ tôi sinh được 1 người con trai gần một năm người con mắc bệnh chết. Năm 1948 sinh tôi và năm 1950 sinh em gái tôi.
Trong những năm 1946 đến khi sinh em gái tôi, chị Sét cùng mẹ tôi và gia đình sống với nhau, từ tháng 3 đến tháng 8 rãnh rỗi việc đồng áng, cha tôi thường đi ra huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh làm thuê kiếm sống. Cuối năm 1950, chị tôi bỏ nhà đi với hai người bạn gái, người tên là Hui. Chị đi vào buổi sáng, trời mưa rào nhẹ gọi là mưa ngâu. Chị tôi đi năm 1950 hay 1951 bây giờ hỏi nhiều người nhớ không chính xác. Nhưng tôi thì nhớ chị đi như thế nào, buổi sáng hôm đó mẹ tôi đi làm cỏ lúa, chị tôi ở nhà bồng em gái tôi và chơi với tôi. Khi em gái tôi ngủ, chị tôi dắt tôi đến nhà bà Phen cách hai nhà với nhà tôi. Vì trời mưa chị tôi đội lên đầu cho tôi chiếc khăn rửa mặt gấp làm hai. Chị mua cho tôi hai chiếc bánh rán,sau đó về nhà tôi dừng ở ngoài hè, chị dặn tôi coi chừng em, chị đi mua kim chỉ. Chị sang hàng xóm và cùng đi với chị Hui ở nhà vợ chồng anh Nhuận và một người nữa di luôn mãi đến ngày hòa bình năm 1954 chị Nhuận và anh Dụng về thăm quê có cho cha mẹ tôi biết vào đầu năm 1954, chị xuống tàu cùng chồng là một người da đen. Từ đó đến nay mất liên lạc.
Khi ở Hải Phòng, chị tôi có ở cho một nhà giàu ở Phố Lạc Viễn, theo bà Vũ Thị Là con cụ Vệ Thà cùng tuổi chị bỏ nhà đi Hải Phòng kể lại, bà cùng với bà Bình con cụ Cầu hay đến chơi với chị khi ở Lạc Viên Hải Phòng. Sau thời gian cụ Vệ Thà đến đón về, bà Là về thì không biết nữa.
.jpg) |
| Bố Nguyễn Văn Chọ |
Năm 1990, ông Dụng và bà Nhuận về ăn giỗ, tôi hỏi lại chị tôi, bà Nhuận cho biết khi chị tôi xuống Hải Phòng có đến nhà bà Nhuận ở hai tháng. Khi đi chị tôi chưa lấy chồng, sau chị tôi lấy chồng một người da đen không biết làm gì, lính hay công chức, đó là khoảng cuối năm 1953. Chị tôi xuống tàu đi đâu không biết, cũng từ cuối năm 1953, đến nay không ai gặp nữa.
Về họ hàng ruột thịt, anh ruột cha tôi là ông Nguyễn Văn Trị thường gọi là cháu vợ Thống bị giặc Pháp bắn chết năm 1952. Cháu vợ Thống có con lớn tên là chị Nguyễn Thị Thống, Nguyễn Văn Giả, Nguyễn Văn Đài và Nguyễn Văn Lãi.Anh lãi bằng tuổi chị tôi. Bác thư hai tôi là Nguyễn Văn Kố, thường gọi là bác Miên. Bắc chết tháng 02/1945, bác gái chết tháng 7/1945. Bác được ba người con gái, chị lớn nhất là Nguyễn Thị Miên, chị thứ hai là Nguyễn Thị Nghiến, chị thứ ba là Nguyễn Thị Tiến chết năm 12 tuổi.
.jpg) |
Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Văn Cung em cùng cha với Nguyễn Thị Sét
|
Về bên ngoại chị tôi có cậu ruột là Lê Văn Bảo và Lê Văn Thúc, ngoài ra còn có dì Tấm, bà Lúa. Mọi người đều thất lạc sau nạn đói năm 1945.
Đối với làng xã, chị tôi có khi nhớ làng mà quên xã, huyện chăng, tôi kể sơ qua để biết đâu chị tôi còn sống mà nhớ được. Làng tôi có con đường chạy dọc làng từ cổng bắc chùa trên, đến cổng Nam có đình quan viên. Đường làng ghép hai hàng đá phiên dài một cây số. Làng có cổng hậu, có cầu Đá, khi vào làng, cổng Đông được xây dựng cuốn vòm, vào làng cũng phải qua cầu Đá.
Cánh đồng làng tôi có tên hẳn hoi, mỗi cánh đồng đều có cây đa cổ thụ, cây đa Đồng Rồi, cây đa ngoài cống, cây đa cầu Nay, cây đa bồ cắp, cây đa Đáy...Đó là những di vật dễ để người đi xa nhớ lại khi mọi tên làng xóm có thể quên tôi sơ bộ kể trên đây biết đâu được vận may mà chị tôi còn nhớ về nơi quê hương mà bao nhiêu năm không nhớ tên làng xã.
Thưa chương trình, tôi hi vọng và chờ đợi những dòng tôi viết trên đây là cơ sở để chị tôi nếu còn sống mà nhớ lại. Tôi cũng không quên cám ơn chương trình đã làm được cho nhiều gia đình đoàn tụ mà tôi xem qua cảm động rơi nước mắt.
Xin chân thành cám ơn.
Nguyễn Văn Sâm