 |
| Chị Nguyễn Thị Kỳ (ảnh chụp 1972) |
Tôi tên Nguyễn Thị Kỳ, trong gia đình thường gọi là Út Hương.
Người tôi muốn tìm là cháu gọi tôi bằng cô ruột. Tên cháu là Nguyễn Thị Hậu. Cha cháu tên Nguyễn Thành Tiền - là anh cùng cha khác mẹ với tôi. Tuy mẹ tôi là mẹ kế, nhưng bà thương hai người con trai riêng của chồng bằng tình thương yêu, vun đắp tận tuỵ. Đáp lại, cả 2 người anh – trong đó có cha cháu Hậu - rất mực yêu kính mẹ tôi, thương các em gái. Trong trí nhớ của tôi, chưa bao giờ tôi nhìn thấy 2 anh nhìn mẹ tôi bằng ánh mắt bất kính chứ đừng nói là thốt lên lời bất kính.
Anh tôi đã có vợ. Trong phút xa gia đình (vợ con ở Quy Nhơn, anh là hạ sĩ của 1 đơn vị hậu cần thuộc quân đội sài Gòn, đóng quân ở Sơn Trà- Đà Nẵng), đã đi lại với chị Hoàng Thị Don và có cháu Hậu. Mẹ tôi tình cờ biết việc này khi ra Sơn Trà- Đà Nẵng (1968) thăm chị gái tôi vừa sanh bé Dung. Lúc ấy chị Don cũng vừa sanh cháu Hậu mới vài ngày, ôm con còn đỏ hỏn trong hoàn cảnh bơ vơ.
Mẹ tôi hỏi ý chị: Muốn về quê (Hải Lăng) thì mẹ giúp vốn sinh sống, muốn về với mẹ thì làm con gái của mẹ (nhưng phải không quan hệ tình cảm với anh Tiền nữa) và về sống với mẹ ở Tam Kỳ, Quảng Nam. Chị xin theo mẹ tôi. Và chị đã sống cùng chúng tôi 4 năm (1968 – 1972).
Điều tốt đẹp mà mẹ tôi thu xếp được là anh Tiền - chị Don chấm dứt hẳn quan hệ tình cảm, vợ anh Tiền không bao giờ đá động chuyện cũ. Khi có người đàn ông tốt muốn xây dựng gia đình với chị Don, mẹ tôi sẵn sàng tác thành nhưng chị từ chối. Đối với mẹ tôi, chị là đứa con hiếu thảo; đối với tôi, chị là người chị hiền.
Sau này mẹ con chị ra sống chung với chúng tôi ở Sơn Trà, Đà Nẵng. Bé Dung (con chị ruột tôi) cùng tuổi với bé Hậu. Để chị khỏi tủi, mẹ và chị gái tôi mua sắm cho bé Dung - bé Hậu như mua cho 2 đứa trẻ sinh đôi vậy. Nhưng bao giờ bé Dung cũng hồn nhiên vui tươi (dù thể chất mảnh mai, yếu đuối), còn bé Hậu lặng lẽ, ít nói cười hơn (dù khoẻ mạnh, bụ bẫm hơn hẳn). Ở tuổi măng sữa lên 3, lên 4 mà Hậu đã là đứa trẻ rất tình cảm. Tôi đi học về trễ đến đâu cháu cũng chờ tôi về rồi mới ăn cơm. Ngày ấy tôi cũng chỉ là một cô bé vô tư, có khi về tới nhà là mở lồng bàn, xới cơm ăn ngon lành, đến khi thấy cháu ngồi lặng lẽ nhìn, mắt ươn ướt mới biết cháu nhịn đói chờ cô út! Tôi xin lỗi và lấy bát cơm với nhiều thức ăn cho cháu. Bé Hậu tươi ngay nét mặt. Đó là một bé gái rất hiền, ngoan, giàu cảm xúc!
Sau tết 1972 (có thể là tháng 3) chị xin phép mẹ tôi đưa cháu Hậu về thăm mẹ ruột của chị ở Hải Lăng (Quảng Trị). Nào ngờ chiến sự nổ ra ác liệt. Nghe nói do nhà hết lương thực, chị đánh liều ra đồng tìm mót lúa, khoai gì đó, rủi gặp một toán lính của quân đội Sài Gòn hành quân ngang qua, chị và những người nông dân trên đồng bị lính lùa theo (vì sợ chạy về báo tin cho quân giải phóng, làm lộ cuộc hành quân). Chị bị đưa vào trại tản cư nên có thể chị thật sự không biết số phận bé Hậu và bà ngoại cháu ra sao, sống hay chết...
 |
Bé Dung và bé Hậu (phải)
|
Khi mẹ con cháu Hậu thất lạc, trong gia đình tôi chỉ có 2 người quan tâm đến số phận của cháu: Mẹ tôi (đau ốm liên miên) và tôi (mới 15 tuổi). Tôi tin rằng, trong ký ức tuổi thơ của Hậu, nếu nhớ về bên nội ở Sơn Trà, Đà Nẵng thì người mà cháu nhớ cũng chỉ có thể là bà nội và nhất là cô út mà thôi vì chúng tôi gần gũi cháu, rất mực thương yêu cháu và bản thân cháu lại có tình yêu thương đặc biệt với tôi, thích quấn quít bên tôi hơn cả đối với mẹ cháu (có lẽ vì mẹ hay rầy la con trẻ còn cô út có nhiều kẹo bánh, hay kể chuyện cổ tích cho cháu nghe và biết cháu “thiệt thòi” nên luôn dành phần hơn cho cháu...).
Rồi nghe tin chị Don sống trong 1 trại tản cư ở Huế, mẹ tôi nhờ nhiều người ra Huế tìm (Hải Lăng, Quảng Trị đã thuộc về quân giải phóng, không liên lạc được). Họ cho biết chị Don khóc nhiều nhưng không dám về vì chị đã để thât lạc mất cháu Hậu ở Hải Lăng rồi. Mẹ tôi lại nhờ người ra đón chị về nhưng chị vẫn nói “tìm được con Hậu rồi tôi mới dám về”, tiếp đó chị đã rời trại tản cư đi đâu không rõ... và biệt vô âm tín.
 |
| Bé Hậu (đứng ngoài cùng bên trái) chụp cùng bà nội và các anh em họ |
Cháu Hậu và chị Hoàng Thị Don hiện ở đâu? Trong bão táp của “Mùa hè đỏ lửa 1972” đứa cháu bé bỏng của tôi còn sống không? Sau năm 1975, tôi hoàn toàn mất thông tin của gia đình anh tôi Nguyễn Thành Tiền! Còn mẹ tôi thì đã mất năm 1994.
Dù muộn, tôi vẫn mong Chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly…” cho tôi có hạnh phúc được nghe cháu tôi gọi tôi... như ngày xưa: “CÔ ÚT ƠI!”.
Rất biết ơn Đài THVN, chị Thu Uyên và các anh chị thực hiện chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly…”!
Nguyễn Thị Kỳ